
![]() |
|
|
Tủ sách tư liệu khoa họcNhịp thích ứng vòng đóng (Closed Loop Stimulation)![]() Nhịp thích ứng CLS
là phát minh của cố GS Max
Schaldach
(1936-2001), người sáng lập công ty Biotronik. Từ
những
ngày đầu nghiên cứu về nhịp tim, GS Schaldach
đã có những chương trình nghiên cứu về một nút xoang
nhân tạo. GS
Schaldach không
được hài lòng với nhịp thích ứng
dùng bộ
phận gia tốc (accelerometer) thường được dùng trong
các
máy tạo nhịp vì bộ phận gia tốc không
trực thuộc
một hệ thống vòng vào lại (feedback loop) bao gồm
hệ
thống huyết lưu và hệ thần kinh tự động (autonomic nervous
system). Nói chung la hệ thống nhịp với bộ phận gia tốc
là một vòng hở (open loop system). Ngay cả hệ
thống Minute Ventilation đo nhịp thở cũng không đạt
tiêu chuẩn tạo nhịp sinh lý. Có rất
nhiều trường hợp nhịp tim một người bình thường tăng
mà các máy tạo nhịp với các
bộ phận nhạy trên không phản ứng. Thí
dụ khi người mang máy tạo nhịp có cảm xúc mạnh (buồn, vui, ...).
Theo sinh lý học, hệ thần kinh tự động điều hành cung lượng máu qua 4 chức năng
|
Trong
chương trình nghiên cứu trên, kéo dài khoảng một thập
niên bắt đầu từ
cuối thập niên 80, GS Schaldach quyết định dùng
chức năng co thắt
của tim (inotropy) thường được duy trì trong
các bệnh
nhân suy nút xoang. Trong hình dưới
đây về
hoạt động của hệ thần kinh tự động (autonomic nervous system), hệ giao
cảm (sympathetic system) điều chỉnh cung lượng co bóp tim
(cardiac output - trong hình ghi lầm là stroke
volume - CO= SV * Rate) qua nhịp nút xoang
(heart rate) và thể tích co bóp
(stroke volume) qua độ co thắt của tim.
Các bệnh nhân suy nút xoang thường mất chức năng thay đổi nhịp qua nút xoang, nhưng vẫn còn chức năng thay đổi độ co thắt tim. Trong khi nhịp có thể tăng gấp 3-4 lần lúc bình thường, thể tích co bóp chỉ có thể thay đổi khoảng 2 lần cao hơn nên không thể cung ứng đầy đủ nhu cầu huyết lưu khi cần tăng nhiều.
Vì vậy trong nhịp thích ứng CLS, máy tạo nhịp sẽ đo độ co thắt tim và sẽ tăng nhịp khi tim có độ co cao hơn lúc bình thường. Phương pháp dùng để đo độ co thắt là đo trở kháng ở mỏm tim, như trong hình dưới đây.

Nguyên tắc đo trở kháng là máu có trở kháng thấp hơn là cơ tim. Vì vậy vào thời kỳ tâm trương (diastole) trở kháng đo từ đầu điện cực ở mỏm tim thấp. Trở kháng sẽ cao vào cuối thời gian tâm thu (systole) khi lượng máu xung quanh điện cực ít. Độ co phản ảnh qua dốc của trở kháng khi tim co. Dốc cao là độ co cao, dốc thấp là độ co thấp.









Số lượt truy cập:
Cập nhật: 23/10/2011 Copyright NWSPI 2007-2011