Từ các h́nh trên, chúng ta chỉ có thể
suy đoán là cần lớp "lọc đặc biệt" (special filter) với đường kính
khoảng 6 F. Ngoài ra lớp lọc này không dễ nối vào dây, do đó đầu điện
cực cần phải to ra. Thân dây chỉ có 6,6 F trong khi đầu dây >7F, v́
vậy cần kim chích 8F.
Trong khi
thiết kế các dây Biotronik không có thay đổi khi chuyển qua ḍng ProMRI
Điều chúng ta nhận thấy ngay ở h́nh chụp dây Tendril MRI, là
dây có đầu to hơn thân dây. Do đó mặc dù thân dây chỉ 6,6 F, đă phải
dùng kim chọc tĩnh mạch 8F! Từ các h́nh trên chúng ta có thể đi đến kết
luận là dây Tendril MRI sẽ là loại dây rất đắc tiền, v́ lớp "special
filter". Mà lớp special filter này cũng đă không thành công
giử diện tích điện cực đầu thấp!
Các dây tạo nhịp tương thích MRI của 2 công ty
Medtronic và St. Jude đều khác nhiều dây b́nh thường. Điều này chứng tỏ
là độ tăng nhiệt độ các dây b́nh thường không đạt mức chấp nhận được.
Thay đổi kích thước dây là một biện pháp rất tốn kém v́ cần đầu tư vào
cả một giàn máy sản xuất mới ... sẽ đưa đền giá cao hầu Cty lấy lại vốn.
Trong
khi đó công ty Biotronik th́ chuyển từ các dây Setrox (7F) và Siello
(6F) qua ḍng ProMRI Safio (7F) và ProMRI Solia (6F), và tứ dây sốc
Linox SD sang Linox Smart ProMRI SD, một cách rất dễ
dàng chỉ có những thay đổi nhỏ thôi. Suy luận ra chỉ có 1 yếu tố có thể
giúp Biotronik chuyển qua ḍng ProMRI một cách dễ dàng như vậy. Đó là
lớp phủ
fractal Iridium
trên tất cả các điện cực tạo nhịp Biotronik .
Điện cực Biotronik với
lớp phủ fractal Iridium.
Cấu trúc rất đều và không có góc cạnh.
Mục
đích lớp phủ fractal Iridium là làm tăng diện tích giao diện

lên
>
1000 lần khi so với điện cực trơn. Điện cực Medtronic 5076 là thuộc
loại platinized platinum (xem h́nh bên phải).
Ngay cả cho diện tích giao diện là 10 lần hơn điện cực trơn, vẫn thua
fractal Iridium cả 100 lần. Do đó khi chúng ta nh́n lại độ tăng nhiệt
của dây 5076, mà tăng diện tích giao diện lên 100 lần, mức tăng nhiệt
độ sẽ không đáng kể - thí dụ mức tăng nhiệt độ do 1 calorie nhiệt với 1
cc nước sẽ 100 lần cao hơn là với 100 cc nước! Ngay cả lớp phủ fractal
TiN trên các điện cực đầu của các dây St. Jude cũng không tăng
đủ
để tránh phải thay đổi thiết kế các dây St. Jude. Vào cuối thập niên
1990, Cty Biotronik đă từng dùng lớp phủ fractal TiN trong các dây TIR,
nhưng đă sớm chuyển qua fractal Iridium v́ fractal TiN không tốt bằng.
Với các dây MR conditional chúng ta thấy là ưu điểm của fractal Iridium
đă quá rơ ràng!
Điện cực với lớp phủ
fractal TiN
của Cty Biotronik - trước 2000.
Về phương diện điện trường các góc nhọn không tốt.
Từ suy đoán này, chùng tôi nghĩ Cty Biotronik sẽ
đạt MR conditional rất sớm với các dây điện cực sốc (Linox - đạt
18/11/2011) và điện cực thât trái (Corox - dự định Quư 2, 2012) với chỉ
những thay đổi nhỏ
trong thiết kế dây.
Ngoài ra các dây tạo nhịp Setrox S, Siello S và T,
các dây sốc Linox SD, các dây thất trái Corox hầu như là 90% tương
thích
MRI. Dây Solox với diện tích điện cực đầu là 3,5 mm2, to hơn diện
tích dây Siello T là 2,1 mm2 cũng sẽ tượng tự. Do đó đến kỳ thay máy,
mà thay máy MR conditional, bạn
sẽ có
một bộ máy hầu như MR conditional, mặc dù Cty Biotronik sẽ không thể
bảo đảm là an toàn 100%, nhưng trên thực tế hầu như >90%! T́nh
trạng
này không áp dụng cho các dây điện cực các công ty khác vi chúng ta rất
dễ thấy là dây thường và dây MR conditional khác biệt nhiều!
Vậy
tại sao bạn phải chọn một bộ máy sẽ đưa đến chống chỉ định chụp MRI cả
đời c̣n lại của bạn, chỉ v́ vào thời điểm này bạn chưa đủ phương tiện
để cấy một bộ máy MR conditional??? Nếu bạn chưa có đủ phương tiện mua
một bộ máy MR conditional của Biotronik, bạn nên ít nhất xin cầy loại
đây ProMRI, hoặc loại dây 90%!
Bạn nên nhớ là một khi bạn cấy dây
điện cực vào người, bạn phải tiếp tục dùng dây này qua các thế hệ máy,
không thể bỏ lại (chống chỉ định MRI), hoặc phải rút dây ra (kỹ thuật
chưa có ở VN và có đôi chút nguy cơ tử vong).
Phê b́nh của các bác sĩ cấy máy
Công ty Biotronik đă cố gắng t́m hiểu phản ứng các bác sĩ đă cấy máy
tạo nhịp tương thích MRI. Dưới đây là phê b́nh đă nhận được.
- Dây Medtronic Surescan 5086MRI (8F) quá cứng.
- Lư
do đơn giản là tại dây đồng bên trong chỉ có 2 sợi mà lại to hơn dây
b́nh thường. Theo kinh nghiệm, cần 4 dây đồng ở trong để đạt dây mềm.
Dây cứng th́ khó luồng vào tĩnh mạch hơn và có nguy cơ sự cố (thủng
tim) cao hơn.
- Dây St. Jude Tendril MRI (8F) th́ mềm hơn dây 5086, nhưng vẫn cứng hơn các dây b́nh thường.
- Chỉ
có các dây Biotronik ProMRI Safio S (7F) và Solia S và T (6F), là mềm
như các dây Setrox S (7F) và Siello S và T (6F). Ngoài ra đây là các
dây mỏng nhất!
Các nhận xét trên dễ hiểu khi
so sánh các dây điện cực.
Tài liệu tham khảo
Medtronic,
Revo MRI
Pacing System, 2011
St. Jude Medical,
MRI
Lead Reliability, 2011
St. Jude Medical,
Everything
and MRI, 2011
Medtronic,
Components
of Pacing Leads: Design and Performance Factors, ??